CHƯƠNG 2
(Tiếp theo kỳ trước)
Chiếc xe đò cũ kỹ từ từ lăn bánh rồi ngừng hẳn trước một cái quán cóc bên đường. Người lơ hét lên nói xe ngừng vài phút cho người ta xuống uống nước hút thuốc ở cái trạm cuối này trước khi xe vào thành phố. Người ta túa ra xe, người vội móc túi lấy thuốc lá ra châm, người đứng làm vài động tác co dãn gân.
Ông Lung tay xách bị đứng lớ ngớ trên bến xe của thị trấn Trảng Nguyên. Một bến xe thật nhỏ của một thị trấn cũng thật nhỏ. Trông thật tiêu điều, vỏn vẹn một cái bàn bán vé kê dưới một cái mái tôn cong queo rỉ sét, hai xe bán nước và một xạp bán thức ăn. Vài ba người lảng vảng xung quanh. Họ giương mắt nhìn những người hành khách mới xuống xe, đa số là người từ phương xa đến, vài người có lẽ là dân ở đây vì xuống xe đò là họ vội kêu xe ôm đến chở đi.
Ông tránh những cái nhìn của đám đàn ông địa phương. Lạ xứ lạ người, ông thấy lẻ loi cô thế. Xách túi đi lại một chiếc xe bán nước gần nhất, ông mua một chai xá xị rồi kéo ghế ngồi. Một vài cái nhìn còn theo dõi những cử chỉ của người lữ hành lạ mặt. Chai nước ngọt và một cái ly với lỏng chỏng vài cục nước đá được đặt xuống. Ông Lung kín đáo nhìn vào trong ly đo lường sự sạch sẽ của nó rồi rót nước vào, làm một ngụm nhỏ xong châm một điếu thuốc. Vượng nói có thể đến đón trễ nên ông không lo, lúc đầu ông sợ xe đò đến trễ làm hắn phải chờ. Bây giờ ông mới cảm thấy cái hanh trên vùng núi, lại vào gần cuối năm thời tiết trở lạnh. May mà Thuyên dặn ông đem theo áo lạnh.
"Thuyên chu đáo quá," ông Lung nghĩ thầm rồi mỉm cười.
Quan sát cái cảnh tiêu điều của bến xe đò làm ông nhớ lại mấy cái phim cao bồi xem dưới Sài Gòn. Thị trấn viễn Tây của Mỹ trong phim trông tiêu điều không kém, chỉ khác cái một đằng cỡi ngựa một đằng đi xe. Đây là lần đầu tiên lên đây, ông thường nghe nói cao nguyên đất đỏ. Ông nhìn xuống mặt đất xung quanh chỗ mình ngồi. Màu đất không đỏ, chỉ nâu vàng nhưng có lẽ nâu đậm quá trông tựa như đỏ. Nhìn quanh, ông nhận thấy thêm một điểm tương đồng giữa quang cảnh ở đây và thị trấn cao bồi Mỹ. Hoang vu. Cái tỉnh lẻ này sao trông hoang vu quá. Chỗ ông ngồi uống nước là đầu con lộ chính của tỉnh. Từ đây ông có thể nhìn thấy cuối lộ không xa mấy. Rải rác hai bên là những căn nhà lụp xụp trông thật thảm.
Ông than thầm. "Mong chỗ Vương ở không cảnh trí tiêu điều thế này, thiếu gợi hứng gợi cảm thì viết lách làm sao?"
Người đàn bà bán nước cầm khăn lau đi vòng ra phía trước lau mấy cái ghế đẩu rồi lại gần khách, miệng cười cười như muốn gạ chuyện.
Ông nói trước.
- Tỉnh coi bộ nhỏ quá hả bà chủ. Còn chỗ nào nữa không hay vầy thôi?
Bà bán nước lắc đầu.
- Thì làng phải nhỏ chớ sao, nếu chú vô thành phố thì lớn chớ đâu có như vầy. Dưới đó lớn lắm à, trên đây chỉ mới là bên ngoài thôi.
- Từ đây xuống đó bao xa vậy bà?
- Xe đò đi chừng hai chục phút.
Đúng lúc đó có tiếng kèn xe rồi tên lơ hò hét mọi người lên lại xe.
Đất của con lộ từ chỗ lúc nãy ông Lung xuống xe đò bớt đỏ đi khi vào con đường chính dẫn vào thị trấn. Con đường này đi qua những ngọn đồi con trên có những rừng thông xanh rì, những khu rừng thông mà lúc nãy ông thấy xa xa từ cái xe bán nước. Con đường trở nên ngoằn nghèo hơn làm xe lắc lư tợn dù đã phải đi chậm lại những khúc rẽ.
Ông Lung quan sát cảnh trí ngoài xe. Càng đi xa cái chỗ quán cóc, ông mới nhận ra nó trông như là một thế giới riêng biệt bị cách biệt khỏi thị trấn bằng một con đường thật hiểm nghèo mà nhũng người sống nơi đó giống như bị lưu đày xứ khác.
Hơn mười lăm phút mà xe vẫn chưa vào đến thị trấn. Quang cảnh vẫn còn hoang vu, xung quanh chỉ có một vài người cong lưng đạp xe. Nhà cửa hai bên đường thì thưa thớt vài ba cái ẩn hiện thấp thoáng sau những rặng cây thông. Cái lạnh hình như tăng lên trên những con đường đèo rồi còn có vài người trên đẩy cửa sổ he hé làm gió lạnh lùa vào khiến ông Lung lạnh run người lên. Ông nhắm mắt lại, trong đầu chỉ mong sao đến nơi thật nhanh và có Vượng đã chờ sẵn để chở về nhà càng sớm càng tốt. Mắt nhắm nghiền, chỉ có tiếng máy xe và tiếng gió là những gì còn giữ ông tiếp xúc với cảnh vật bên ngoài rồi ông chợt có ý nghĩ thử tìm ra những khác biệt giữa vùng cao nguyên hoang dã và thành thị náo nhiệt qua âm thanh. Ông để trí nhớ mình trở về căn lầu nơi Thuyên đang chờ ông về. Cuối con hẽm nhà ông cũng im lặng không khác gì trên này mấy. Có những ngày ông chỉ nghe tiếng nói nhỏ nhẹ của Thuyên và tiếng vỹ cầm não nùng từ cái máy hát dĩa nhỏ 45 vòng. Cái im lặng của cuối con hẽm đã giúp ông tập trung vào việc viết văn nhưng dạo này hình như có những giao động nho nhỏ nào đó trỗi lên trong đầu. Những tiếng động này rất nhỏ nhưng đều đặn và chia trí, đánh đuổi ra khỏi đầu những giòng tư tưởng nhẽ ra đi theo tay xuống đến ngòi bút. Rồi ông thấy đầu mình như một bình rượu cạn dần chỉ còn một ít cặn dưới đáy, cái khoảng không khí trong bình làm cho tí rượu cặn đó loãng thêm đi. Đang mải suy nghĩ, ông Lung giật mình khi có tiếng tên lơ hét lên.
- Tới rồi tới rồi bà con ơi!
Chiếc xe đò đi chậm hẳn lại. Xung quanh nhà cửa đông đúc hơn. Chưa vào đến chợ nhưng ông nghe tiếng người cười nói, tiếng xe, tiếng chó sủa, tiếng trẻ con khóc.
Dường như càng vào sâu thị trấn khí hậu lại càng ấm áp hơn, có lẽ vì đông đảo người ta qua lại. Đi thêm được một lúc, tên lơ lại hét lên.
- Tới bến rồi.
Ông Lung vội giương mắt lên nhìn ra cửa sổ xe tìm Vượng nhưng không thấy hắn đâu. Mọi người lục tục đứng lên dành xuống xe. Ông xách va-li và túi vải đi lại gần cột đèn dựa lưng lên rồi móc thuốc hút chờ bạn.
Gần nửa tiếng sau một chiếc xe nhà sơn đen trườn đến. Trên xe là một thanh niên đeo kính cận thị, mặc áo len xám. Vừa ngừng xe ngay trước chỗ ông Lung đứng, hắn nhảy xuống, mặt cười thật tươi, đi lại hai tay giang rộng như muốn ôm chầm lấy ông Lung nhưng ông đã nhanh đưa tay ra trước. Người thanh nhiên bắt tay siết thật chặt.
- Anh chờ lâu chưa?
Ông Lung cười toe nói.
- Cũng mới đến. Mạnh giỏi Vượng?
- Cũng thế anh. Còn anh có gì lạ?
- Cũng vậy, chỉ già hơn xưa. Bây giờ Vượng giúp tôi chở va-li về.
-------------
Sự hiện diện của người đàn bà trẻ tại bàn ăn làm ông Lung không được tự nhiên. Trên đường về nhà Vượng, ông cứ ngỡ lát nữa đây sẽ chỉ có mình và người bạn trẻ thân để mà tha hồ hàn huyên sau bao năm chưa gặp lại. Ý nghĩ này làm ông vui hẳn lên dù trong người cảm thấy mệt mỏi sau một ngày đi xe đò qua những con đường đèo khúc khuỷu và mấp mô dằn vặt cơ thể khó chợp mắt được. Cất va-li vào phòng xong, ông vào phòng tắm rửa mặt cho tỉnh người lên, thay vội cái sơ-mi rồi đi xuống lầu.
Vượng đang chờ dưới phòng khách. Thấy ông xuống, hắn đưa cho ông một ly rượu.
- Anh làm một ít cognac cho ấm bụng. Mấy hôm nay trời trở lạnh.
Đỡ lấy cái ly, ông Lung cảm thấy có hơi ấm từ thành thủy tinh của ly chuyền sang tay mình. Ông xoay xoay cái ly bầu trong lòng bàn tay như để giữ cái hơi ấm ấy cho ấm lâu hơn. Vượng hiểu ý, vừa nói vừa chỉ lên bàn khách cho thấy một cái đèn cồn con.
- Em hâm cái ly cho ấm lên đó. Nếu nó lạnh thì cứ hâm lại. Khách gật gù mỉm cười. Vượng mời ông ngồi xuống cái ghế bành bọc da nai rồi mở hộp xì-gà ra mời một điếu xong đi lại gần cái lò sưởi đá bên trong có vài khúc củi đang âm ỉ cháy, cầm lên một thanh sắt chọc vào đống củi khơi cho ngọn lửa bùng lên. Nhiều tàn lửa bắn ra ngoài trông thật lạ mắt với ông Lung, dưới Sài Gòn có bao giờ đốt lò sưởi cho ấm đâu. Trong lòng ấm hẳn lên, ông rung đùi nhấm rượu mạnh tây hút xì-gà khói bay thơm phức.
- Nếu tôi nhớ đúng thì cậu dọn về đây cũng khá lâu.
- Vâng, đúng ba năm, Vượng đáp xong cười phá lên, em nhiều lần mời anh chị lên để khoe nhà mà anh chị có thèm lên đâu. Anh thấy được không?
Trong giọng nói của người thanh niên đượm vẻ tự mãn. Ông Lung thông cảm cái tự mãn ấy vì biết rõ người bạn trẻ của mình. Ra đời sớm, tự lập, được một cơ nghiệp như ngày hôm nay, Vượng có quyền tự mãn và hãnh diện về chính mình. Ông đưa mắt nhìn quanh nhà. Căn nhà khá lớn, trần cao, vách tường xây bằng đá chứ không phải gạch. Phòng khách nơi hai người đang ngồi khá lớn, vách tường chính là chỗ có lò sưởi xây bằng gạch thẻ. Treo trên vách tường ấy bên trên lò sưởi là một đầu con hai với hai cái sừng dài nhọn hoắt. Dưới đầu con nai là một cái kệ gỗ hẹp dài trên kê một khẩu súng dài hai nòng để đi săn. Hẳn Vượng đã hạ con nai đáng thương kia bằng khẩu súng dài đó rồi chặt đầu nhồi bông treo trên tường như một cái cúp còn da thì lột ra làm bọc cho cái ghế bành khách đang ngồi thật thoải mái. Phòng khách có hai cửa sổ trông ra vườn mà ông Lung đoán là trồng rất nhiều hoa vì thấy vài cành có những cụm hoa leo trên khung cửa sổ. Ông chỉ thấy có thế vì bên ngoài trời đã tối. Đưa mắt đi dọc theo tường, mắt ông chạm phải một cái kệ sách cao hơn đầu người kê sát vách tường có treo đầu con nai. Ông đoán thầm có cả trăm quyển trên kệ. Ông đứng lên đi lại gần xem. Vượng đi lại đứng sau lưng, hắn chỉ cái kệ trên cùng bảo.
- Sách của anh em đặc biệt để trên kệ này.
Ông Lung liếc qua dãy sách, những truyện dài tình cảm, truyện ngắn, tuyển tập chọn lọc do ông viết từ hai mươi năm nay, tất cả nằm trên cái kệ này. Ông mỉm cười nhìn bạn thầm cám ơn.
- Em không bỏ sót một truyện nào anh viết, hắn nói tiếp, và em đang chờ quyển kế. Lần cuối gặp anh, anh bảo sẽ viết một đại tác phẩm.
Ông Lung phá lên cười. - Một đại tác phẩm! Nghe ghê thế. Anh chỉ sợ cậu chờ đến tết Congo. Anh cạn ý nên mới bỏ lên đây, hy vọng bóp óc ra được vài chữ để viết tiếp cho xong.
- Anh nói em trước được không, chỉ kể sơ sơ cốt truyện thôi.
Câu trả lời lưỡng lự.
- Thì cũng tình cảm lăng nhăng, chả có gì lạ. Anh bắt đầu chán viết rồi, có lẽ đây là truyện cuối rồi về vườn.
- Nếu là truyện cuối thì nó phải đặc biệt ghê lắm, phải không anh? Nhất định đi chứ! Đặc biệt để đời rồi mới treo bút được. Em còn nhớ anh đã nói thế với em đã lâu rồi.
- Thì cũng cố gắng viết để đời nhưng còn tùy người đọc phê phán chứ.
Vừa nói vừa chắp tay sau lưng, ông đi dần đến cuối dãy sách. Nhiều sách lạ ông chưa bao giờ nghe đến, nào sách khảo cứu nhân chủng học, sách khoa học, sách triết, tâm lý học, đồng thời nhiều sách bằng ngoại ngữ. Đang khom lưng đọc tên trên gáy những quyển sách, ông nghe có tiếng chân người từ trong đi ra rồi tiếng tằng hắng trong cổ. Ông quay lại nhìn. Một thiếu phụ tóc búi cao mặt trái soan da thật trắng không son phấn trên vai khoác một chiếc áo len xám nhạt mỏng mặc quần dài đen đã đứng trước cửa phòng. Người đàn bà tiến vào phòng, khẽ gật đầu chào ông Lung xong quay sang nói với Vượng.
- Cơm sẵn sàng rồi anh. Mời anh và ... bác đây vào bàn.
Vượng đi lại đứng sát bên người đàn bà rồi lên tiếng giới thiệu.
- Xin phép giới thiệu với anh, đây là Sương, hôn thê của em. Còn đây là anh Lung, bạn chí thân của anh. Anh đã kể cho em nghe về anh Lung rồi. Ông Lung ngạc nhiên, nhìn Sương rồi nhìn sang Vượng.
- Cậu đã đính hôn? Xin lỗi, tôi không biết.
Chủ nhà giải thích. - Em xin lỗi đã không cho anh biết. Chúng em chỉ mới đồng ý đính hôn tuần trước và quyết định sẽ chính thức thông báo cho mọi người trong tương lai gần nhưng sẽ không làm lễ đính hôn một cách long trọng. Anh cũng biết em không có thân nhân gì trên này, chỉ còn vài người bà con xa ngoài trung. Có lẽ họ cho là em đã chết tiệt đâu rồi chứ chẳng đùa ... thành thử chúng em chả bận tâm. Khi nào làm đám cưới thì mới nghĩ đến chuyện mời mọc.
Ông Lung xua tay.
- Không! Không lỗi gì. Tôi đồng ý cái chuyện thông báo đính hôn không quan trọng, cũng chả cần làm lễ lạc. Hai người thỏa thuận với nhau là đủ rồi. Đám cưới mới quan trọng hơn nhưng chuyện đó để dành cho sau này. Sẵn đây được tin, tôi xin chia vui với cậu và Sương, chúc hai người sẽ thành vợ chồng đầy hạnh phúc.
Nói xong ông nâng ly rượu lên. Vượng vội tiến lại cụng ly với ông rồi hai người ngửa cổ uống cạn. Vượng trông sung sướng ra mặt, quay sang nhìn Sương mắt long lanh. Người đàn bà hơi dựa đầu lên vai hôn phu nét mặt cũng ra vẻ vui sướng không kém.
"Họ trông thật hạnh phúc," ông Lung nghĩ thầm, trong lòng cảm thấy vui lây cái niềm hạnh phúc ấy rồi tự nhiên thấy vui hẳn lên.
Vượng buông Sương ra, khoác tay mời ông vào phòng ăn.
Suốt bữa cơm tối, Sương thật trầm lặng. Hầu như chỉ có hai người đàn ông nói chuyện với nhau. Họ nhắc lại những kỷ niệm xưa, những đêm thức khuya bàn luận về văn chương, những ngày dài ngồi bên bàn rượu chửi đời, những chuyến đi chơi xa. Vì Sung ngồi đó, ông Lung phải giữ kẽ trong điệu bộ ăn uống chứ không được tự nhiên như những lần trước với bạn. Ông lại còn phải cẩn thận trong những lời kể để tránh tiết lộ những chi tiết về thời xưa của Vượng mà ông nghĩ Sương không nên biết. Ông cảm thấy cái gò bó này diệt mất đi niềm hứng thú mà ông nuôi trong lòng suốt chuyến xe đò lên trên đây. Phần Vượng thì dường như không thấy điều đó, hắn vẫn ăn uống thật hăng và nói cũng thật hăng. Trong khi người bạn hăng say nói, ông Lung thỉnh thoảng kín đáo liếc nhìn Sương. Ông thấy nàng có vẻ lơ là về cuộc đối thoại giữa hai người đàn ông. Nàng ăn uống thật nhỏ nhẹ, điệu bộ thật nhẹ nhàng như một con mèo. Sương cắt miếng thịt nai bằng dao thật khéo léo như một bác sĩ giải phẫu, dùng nĩa xiên vào miếng thịt đưa lên miệng xong bất chợt đưa mắt nhìn người khách. Cái nhìn bối rối của ông Lung chạm phải cái nhìn thật êm ái của Sương. Tai ông lùng bùng không nghe rõ Vượng đang nói gì.
Phải đến gần cuối bữa cơm ông Lung mới đổi hướng câu chuyện, quay sang Sương hỏi về thân thế. Vượng vội trả lời đỡ cho hôn thê, giải thích cho ông là hắn quen gia đình Sương trong những chuyến buôn bán. Gia đình nàng lập nghiệp ba đời trên cao nguyên. Cha đã về hưu cùng với mẹ trông nom một tiệp chạp phô nho nhỏ trong một thị trấn lân cận. Ông bà rất mến Vượng và ngược lại hắn cũng rất mến cha mẹ vợ tương lai. Ông Lung một lần nữa khen cặp trẻ trông xứng đôi vừa lứa và chúc họ hạnh phúc. Sương chỉ cúi đầu mỉm cười mà không nói gì.
Sau bữa cơm, ông Lung cáo lỗi lên lầu nghỉ vì đã thấm mệt sau khi ngồi đi xe đò đi cả ngày. Vượng đưa ông về tận phòng ngủ, nói vài câu rồi rút lui. Ông nhìn theo Vượng đi về cuối hành lang. Không có bóng dáng của Sương ở đó.
~§~
(Còn tiếp)
We use cookies to analyze website traffic and optimize your website experience. By accepting our use of cookies, your data will be aggregated with all other user data.